Back to top

Tản mạn âm nhạc – văn học: Vi vu sáo trúc trời mây khói

Tản mạn âm nhạc – văn học: Vi vu sáo trúc trời mây khói

Trong chầu văn quan Hoàng Bảy, có hai câu văn diễn tả rất thần tình cái phong lưu, siêu thoát của Hoàng. Hai câu văn mà ngỡ như thơ hơn nhiều bài thơ, và nhạc hơn nhiều bản nhạc:

Vi vu sao trúc trời mây khói
Như ả phủ dung cuốc gọi hồn

Thế nào là một tiếng sao vi vu? Tiếng sao vi vu có lẽ là một tiếng sáo rất vang. Tiếng sáo ấy lan tỏa ra không gian theo chiều rộng và bay ngút lên trời theo chiều cao. Nhưng đấy không phải là một sự chiếm lĩnh không gian ồ ạt, mà như một tín hiệu nhói buốt được cứa lên từ cái cơ thể không gian. Bởi lẽ “vi vu” gợi lên một tiếng sao mảnh mai, tinh khiết. Và đã gọi là tiếng sáo thì dĩ nhiên nó chỉ được cảm nhận bằng thính giác con người. Thế nhưng vế sau của câu văn lại làm cho tiếng sáo ấy được cảm nhận ở chiều thứ hai: chiều thị giác. Ở đây, rõ ràng là “vi vu sáo trúc” diễn tả tiếng sao, còn “trời mây khói” diễn tả bầu trời, và lẽ thường thì hai phạm trù đó không là một. Thế nhưng nhờ sự tiếp nối dường như không có khoảng cách của 7 ký tự nối tiếp nhau nên người ta bỗng có một cảm nhận: Tiếng sáo kia vi vu trên bầu trời, và tưởng như sự vi vu linh diệu ấy đang tỏa mây khói ra cả bầu trời. Như thế chẳng phải là tiếng sáo tới đây đã được cảm nhận ở chiều thị giác đó sao?

Câu văn này dễ gợi người ta nhớ đến một câu thơ trong Nhật Ký Trong Tù của Hồ Chí Minh:

Ngục trung hốt thính tư hương khúc
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu
(Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu)

Thế nhưng giữa tiếng sáo mà Hồ Chí Minh nghe được trong nhà tù Tưởng Giới Thạch của những năm 40 của thế kỷ trước với tiếng sáo mà quan hoàng Bảy say sưa thưởng lãm từ hàng trăm năm trước có gì khác nhau? Sự khác biệt nằm ở chỗ: Tiếng sáo vi vu của một người bạn tù mà Hồ Chí Minh nghe được là một tiếng sáo bị kìm hãm. Tiếng sao ấy cố vút lên khỏi vực sâu đen tối của nhà tù. Nó giống như tâm thế của những con người khổ ải đang cố thoát khỏi hoàn cảnh của mình. Thế nên tiếng sáo ấy vi vu đó mà sầu thê thiết đó, ngân nga đó, mà não lòng bi ai đó. Ngược lại, tiếng sáo của quan Hoàng lại là tiếng sao trên bầu trời tự do. Tiếng sáo của một tâm hồn bồng bềnh, bay lượn giữa cái khôn trùng, vô tận của đại tự nhiên.

Vậy nên từ tiếng sáo mà người ta cảm nhận rõ cái tâm thế của người nghe sáo. Từ một thanh âm mà người ta hiểu thấu sự lãng mạn, phong lưu của kẻ thưởng ngoạn thanh âm. Tiếng sáo vi vu linh diệu ấy, bầu trời mây khói thiên thai ấy dường như đang diễn tả quá trình một ông quan siêu thoát khỏi bể khổ trần ai. Sự siêu thoát ấy dẫu có thể chỉ được diễn ra ở phương diện tinh thần thì nó vẫn ánh lên một vẻ đẹp tựa như những bức tranh thủy mạc trong cổ họa Đông phương

Nếu câu văn đầu tiên gợi cho người đọc hình ảnh một ông Hoàng say sưa bởi âm thanh thì câu căn thứ hai lại gợi hình ảnh một ông hoàng say sưa vì khói thuôc:

Như ả phù dung cuốc gọi hồn

Chữ “ả” quả là một chữ rất đắt. Chữ “ả” đó khiến cho khói thuốc phiện (phù dung là thuốc phiện)bỗng trở nên mềm mại, tình tứ hơn. Thế mới biết, cái cách Hoàng hút thuốc và thưởng thuốc khác xa so với những kẻ thường. HÌnh ảnh “ả phù dung” không chỉ gợi cảm giác ĐẸP, mà còn gợi cảm giác MÊ. Nói là mê ả ấy cũng đúng, mà nói là mê người đang say ả cũng chẳng sai.

Ba tín hiệu ngôn ngữ, cũng đồng thời là ba tín hiệu thẩm mĩ: Sáo trúc vi vu – trời mây sương khói – Phù dung nhiệm màu tái tạo một cách thần diệu nhất trạng thái SAY như quên mọi sự đời của quan Hoàng. Thế nhưng tín hiệu thứ tư lại khiến cho cái thế giới SAY ấy bỗng nhiên giật mạnh. Bởi ở chính tín hiệu thứ tư này người ta mới bàng hoàng nhận ra: Hoàng Bảy say hơn bao giờ hết nhưng hoàng Bảy cũng đang tỉnh hơn bao giờ hết. Tín hiệu thứ tư: “Cuốc gọi hồn” – tạo ra sự khác biệt một trời một vực so với ba tín hiệu trước đó. Cuốc là hình ảnh con chim cuốc, một con chim mà theo truyền thyết thì tiếng kêu của nó điển hình cho nỗi nhớ nước thương nhà. Hóa ra, ngay trong cơn say tột độ của mình, trái tim quan Hoàng Bảy vẫn nhói đau vì nghiệp lớn.

Tới đây người ta rất dễ có hai cảm nhận. Cảm nhận thứ nhất: Hoàng là một vị tướng tận trung. Bởi phải tận trung lắm thì mới có thể nhức nhối chuyện nước non ngay cả lúc mà bản thân mình đang say sưa thoát tục. Và như thế, Hoàng gợi lên một sự ngưỡng mộ lớn, sự ngưỡng mộ đối với một con người mà tài tử thì cũng thật tài tử, nhưng tài tử, phong trần đến đâu cũng vẫn không nguôi nghiệp lớn của kẻ làm trai. Cảm nhận thứ hai: Tại sao Hoàng không say hết đi, say cho tột cùng, cho quên mọi sự đi? Trong chính cơn say của mình mà vẫn còn nhức nhối một nỗi đau trần thế (dù đấy là nỗi đau của sự tận trung) thì cơn say kia liệu đã tới độ của nó chưa?

Đến đây chúng ta chợt nhận ra một điều: Khi xây dựng hình ảnh một vị anh hùng phong lưu, lãng mạn, dân gian Việt Nam vẫn không thoát ra được cái tư tưởng TRUNG QUÂN ÁI QUỐC. Nhưng có lẽ đấy lại là một câu chuyện khác không nên mở rộng. Ở đây, đièu quan trọng là chúng ta đã được chiêm ngưỡng cái trạng thái say thần diệu của một ông Hoàng.

Cái say ấy, bao giờ ta SAY được?

Long./

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *