Xây nhà hát hay không xây nhà hát ?

Chuyện một cô “ca sỹ nào đó” giõng giạc về chuyện nên bỏ 1500 tỷ đồng để xây nhà hát và bị dư luận phản đối là điều không mấy mới mẻ, đã có hàng ngàn vụ việc tương tự như thế. Nhưng bàn sâu sa hơn, việc xây nhà hát trên mảnh đất Thủ Thiêm là đúng hay sai ?

Năm 1900, khi Nhà hát lớn được hoàn thành, dân số SG và Chợ Lớn khoảng 200 ngàn người, trong đó có khoảng hơn chục ngàn người Pháp (là khán giả chính của Nhà hát lớn). Nhà hát có sức chứa khoảng 400 chỗ.

Hiện tại, HCM có 5 nhà hát, nếu so sánh về số chỗ ngồi, thì tương đương khoảng 10 cái nhà hát lớn. Dân số bây giờ khoảng 10 triệu, gấp 50 lần năm 1900. Số lượng khán giả nhạc cổ điển dự tính là khoảng 100 ngàn (1%). Trong khi số nhà hát có thể biểu diễn nhạc cổ điển chỉ có 2 cái là Nhà hát lớn và nhạc viện.

Lẽ ra, nếu tính theo mức tăng dân số và lượng khán giả thì số nhà hát phải tăng gấp ít nhất là 20 lần. Tức là 20 nhà hát nói chung, trong đó có độ 3-5 cái đạt chuẩn để trình diễn nhạc giao hưởng. Nếu không đạt, thì hóa ra chế độ ta lại mọi rợ hơn chế độ thực dân Pháp?!

Vào năm 1900, Nam Kỳ cũng thiếu bệnh viện, trường học, cũng úng ngập, cơ sở hạ tầng còn rất kém. Nhưng bọn Pháp vẫn xây nhà thờ, nhà hát, công sở…hoành tráng. Chắc bọn chúng mị dân An Nam bằng cách tạo ra vẻ hào nhoáng của đô thị? Người dân ngắm nhà hát và tòa thị chính đẹp để quên đi cái đói? Phỏng ạ? Thực dân thâm độc lắm.

Quay lại vấn đề tranh cãi xem có nên xây nhà hát không? Đa số phe phản đối không thể phân biệt các vấn đề vấn không phải là hệ quả của nhau: Xây nhà hát, cơ sở hạ tầng, bệnh viện, trường học và việc đền bù giải phóng mặt bằng. Tất cả các việc trên đều quan trọng và cần thiết, không nhất thiết là làm cái này thì dừng cái kia.

Nhà hát cũ năm 1954

Xin lưu ý, dự án nhà hát này đã bị dừng 25 năm, 3 lần chuyển địa điểm. Lần gần đây định xây ở công viên 23/9 với 2200 tỷ đồng, vào năm 2012. Vị trí đó chắc là gây ách tắc giao thông và quá gần nhà hát lớn nên không được chấp nhận.

Sai lầm cơ bản nữa của phe phản đối là cứ nhất định bắt nhà hát này chỉ đựơc trình diễn nhạc giao hưởng. Thực ra, về mặt âm học, thì nhà hát nhạc giao hưởng cần tiêu chuẩn cao nhất, nên nó có thể dùng để biểu diễn tất cả các loại âm nhạc khác. Hình như có mỗi nhạc dance/rap là chưa biểu diễn ở nhà hát giao hưởng, còn nhạc rock cũng đã từng.

AE DC vẫn nên tranh đấu cho dân oan Thủ Thiêm, vẫn nên tranh đấu để có thêm BV, trường học, nhưng làm ơn đừng ngăn cản việc xây thêm nhà hát. Vì những việc đó không hề phủ định lẫn nhau cho dù có thể gây phản cảm về hình thức.

Còn nếu bảo không tin AE QL quản lý dự án, sợ đục đẽo. Thì tốt nhất là lật đổ chế độ thôi. Chứ còn có xây bệnh viện, trường học, đặc biệt là cầu đường, thì AE QL đều đục đẽo được hết! Các dự án BT, do tư nhân quản lý, cũng đục đẽo ngân sách ác liệt.

Sai lầm nữa của phe phản đối là cho rằng nhạc cổ điển là dành cho bọn nhà giàu! AE nhầm to, vé đi nghe nhạc cổ điển khá bèo bọt, chỉ từ 200-500ng/vé. So với vé đi xem Đàm Vĩnh Hưng hay Khánh Ly chắc bằng 1/10! Làm gì có loại hình âm nhạc biểu diễn live nào mà giá rẻ hơn?

Trong 1 động thái hơi liên quan, dân số Hà Nội năm 54 đến giờ chắc cũng tăng vài chục lần. Nhưng không có 1 nhà thờ nào được xây mới ở nội đô./

Trên những chuyến tàu hỏa xuyên Đông Dương thời Pháp thuộc

Trên chuyến tàu Đông Dương năm ấy có những chứng thực và những hoài niệm vẫn được in dấu trong tôi. Tuyến đường sắt của 1 thời Pháp thuộc, cổ kính và trầm mặc.

Tôi sinh ra năm 1930. Những năm đầu đời của tôi gắn bó với một giai đoạn quan trọng của lịch sử xây dựng đường sắt xuyên Đông dương (tổng chiều dài 1.730km, – tiền thân của Đường sắt Bắc Nam ngày nay).

Năm 1898, Quốc hội Pháp thông qua một đạo luật cho Đông Dương vay 200 triệu franc nhằm thực hiện ba đoạn đường sắt chính:

– Đoạn Hà Nội đi Vinh, qua Nam Định (dài 319 km, thực hiện trong giai đoạn 1903-1905), được đánh giá là có thể sinh lợi ngay tức khắc. 

– Đoạn Tourane (Đà Nẵng) đi Đông Hà, qua Huế (dài 169 km, – giai đoạn1906-1908), mở những lối đi ra biển Đông cho một vùng dân cư đông đúc.

– Đoạn Sài Gòn đi Nha Trang (dài 411km, – giai đoạn 1904-1913).

Năm 1912, Quốc hội Pháp cho Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut vay tiếp 90 triệu franc để thực hiện đoạn đường sắt Vinh – Đông Hà, Công việc vừa mới bắt đầu thì Thế chiến thứ nhất (1914- 1918) bùng nổ. Sau đó, Toàn quyền Maurice Long tranh thủ Quốc hội Pháp được một khoản vay 6 triệu đồng Đông dương (piastre) để tiếp tục thi công đoạn đường sắt Vinh-Đông Hà, đến năm 1927 được đưa vào hoạt động. 

Như vậy, đến 1927, đường xe lửa Đông Dương đã có hai đoạn dài: đoạn Hà Nội – Tourane ở phía Bắc và đoạn Sài Gòn- Nha Trang ở phía Nam. Đoạn cuối cùng phải hoàn tất là đoạn Nha Trang – Tourane dài 532 km. Sau những tranh cãi dai dẳng trong nghị viện Pháp, đến tháng 11.1931, đoạn đường này mới được khởi công.

Bên trong toa xe hạng tư tàu hỏa xuyên Đông Dương

Ba tôi tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính Đông dương năm 1929, được bổ nhiệm vào Công trường Đường sắt xuyên Việt, lúc bấy giờ đang tiến hành công tác khảo sát cho đoạn Tourane – Nha Trang. Sau khi sinh tôi được 6 tháng mẹ tôi được ông bà cho phép đi theo chồng. Lúc bây giờ mẹ con tôi đã được đi tàu hỏa suốt từ Vinh đến Tourane. Đoạn còn lại từ Tourane đến Trị Bình (Dung Quất bây giờ) đi xe đò, tất nhiên là chỉ đến và thuê nhà ở tại một thị trấn nhỏ gần công trường nơi ba tôi làm việc, chứ không đến công trường ở được.

Lúc vào Trị Bình thì tôi còn bé, không biết gì, nhưng năm lên 5 tuổi được về Vinh ăn Tết với ông bà nội thì tôi đã biết quan sát.

Toa ăn trên tàu hỏa xuyên Đông dương

Mẹ tôi đem tôi và em gái kề tôi (mới lên 3) đi tàu hỏa từ Tourane ra Vinh. Lúc bấy giờ ba tôi cũng hãy còn nghèo nên mẹ con đi toa hạng tư. Toa xe hạng tư được làm chủ yếu bằng gỗ và chỉ cung cấp các tiện nghi cơ bản. Tuy vậy, đến 1937 khi gia đình tôi đi từ Nha trang ra Hà nội (ghé qua Vinh) đã thấy có loại khoang hành khách bằng kim loại với hệ thống giảm sóc cải tiến, ghế ngồi được nâng cấp cho êm hơn, đặc biệt là từ toa khách hạng nhì trở lên. Với toa hạng nhất, hành khách được hưởng loại ghế ngồi thoải mái như salon, với chỗ để tay riêng và đệm tựa lưng lịch sự.

Tàu Tourane đi Vinh – Hànội là tàu suốt, chỉ dừng ở mấy ga lớn. Khách đi tàu cũng đông, đặc biệt là ở hạng tư, nhưng không đến nỗi đông như các toa tàu Ấn độ mà ta thường thấy trên phim ảnh, tạp chí. Toa hạng tư có hai dãy ghế ngồi dọc thành toa và một lối đi khá rộng rãi ở giữa. Khách hạng tư tha hồ mang theo hành lý cồng kềnh, nếu xếp lên xích đông trên dãy ghế ngồi không đủ thì được phép xếp ra lối giữa, nhưng phải có trật tự và không được gây ô nhiễm môi trường trong toa.

Người phụ trách toa khá nghiêm khắc, hành lý quá cồng kềnh kiên quyết bắt đem ra xếp vào toa hàng hóa. Hành khách đi tàu người miền Nam rất tử tế. Họ giúp đỡ mẹ tôi, có người còn cho quà tôi và chơi đùa với hai anh em tôi. Hồi đó hình như người dân có thói quen là đi tàu phải ăn mặc nghiêm chỉnh. Có người mặc áo dài quốc phục, người mặc âu phục, không thấy ai mặc may-ô quần đùi. Đi tàu dọc theo các tỉnh miền trung thấy phương ngữ đổi dần theo khách xuống/khách lên. Chập tối đi qua Thừa thiên đang nghe tiếng Huế nhỏ nhẹ, ngọt lịm thiu thiu ngủ đến gần sáng tỉnh dậy đã nghe thấy tiếng Quảng Trị, Quảng Bình, Hà tĩnh nằng nặng lạ tai. Qua cầu Đức Thọ rồi là tiếng Nghệ “nhà choa”, quen rồi mà vẫn thấy lạ!

Bên trong toa ngồi hạng nhì trên tàu hỏa xuyên Đông Dương.

Từ khi qua cầu Đức Thọ tàu lăn bánh trên đất Nghệ an, tôi một mực đứng lên ghế nhìn ra ngoài cửa sổ. Mẹ tôi sợ bụi than bay vào mắt tôi, nhưng không cản được. Những cánh đồng lướt qua cửa sổ. Làng mạc xuất hiện xa xa, lưa thưa rồi đông dần lên. Bỗng nghe tiếng còi tàu vang lên, tôi biết là tàu sắp vào ga. Tàu giảm tốc độ, đã vào đến sân ga. Tôi nhoai người nhìn ra cửa sổ, một bác đứng gần kéo tôi lại.

Tàu chạy chậm dần rồi dừng hẳn. Nhìn ra đã thấy ông nội tôi đứng chếch về phía trên một chút. Tôi gọi toáng lên “ông, ông ơi”. Ông tôi lật đật chạy lại gần cửa toa. Vẫn cái bác ban nãy bế tôi lên và đưa ra cửa toa, cẩn thận xuống bậc để trao cho ông tôi. Tôi ôm cổ hôn ông rồi tụt xuống, đứng khoanh tay cúi đầu cảm ơn bác đồng hành tốt bụng (hồi đó tôi chơi với một thằng bé cùng tuổi con ông chánh kỷ sư người Pháp, bà vợ ông dạy dỗ rất cẩn thận cho cả hai đứa cách cư xử).

Cô tôi cũng ra đón. Cô vỗ nhẹ lên đầu tôi rồi trèo thoắt lên toa vào bế em tôi để cho mẹ tôi dọn hành lý. Mẹ tôi trao dần từng kiện cho một ông trung niên người Bắc kỳ chuỷển qua cửa sổ cho người giúp việc ông nội đứng đón ở dưới. Xong xuôi, mẹ tôi lễ phép chào những bạn đồng hành và theo cô tôi xuống toa. Mẹ cũng không quên chào và cảm ơn người phụ trách toa đang đứng thẳng người trực ở cạnh bậc thang xuống toa. Nói dài dòng một tý cho thấy con người hồi đó cư xử với nhau tử tế như thế nào!

Ngày 2/9/1936, hai tuyến đường sắt ở 2 đầu Bắc-Nam gặp nhau tại km 1221 thuộc Hảo Sơn, thuộc tỉnh Phú Yên. Một buổi lễ trang trọng và hoành tráng đã được tổ chức để chào mừng sự kiện này, Toàn quyền Réne Robin tự tay đặt những mảnh đường ray cuối cùng nối liền 2 đầu Bắc-Nam của tuyến đường sắt trước sự hiện diện của vua Bảo Đại.

Việc hoàn thành tuyến đường sắt xuyên Đông Dương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm cung cấp khả năng di chuyển giữa Hà Nội và Sài Gòn trong khoảng thời gian chỉ 40 giờ đồng hồ, trên những con tàu được trang bị các loại đầu kéo khá hiện đại so với thời bấy giờ.
Ngày 1/10/1936, một tấm bia lưu niệm đã được dựng tại vị trí km 1221. Tham gia lễ đặt bia khánh thành có sự Vua Bảo Đại, quyền Toàn quyền A Sylvestre và Tỉnh trưởng Vân Nam – Trung Quốc Long Vân.

Trên bia khắc dòng chữ tiếng Pháp: “Tại đây, tuyến đường sắt xuyên Đông Dương, được khởi công bởi Toàn quyền Paul Doumer nhằm đánh dấu sự thống nhất của Đông Dương được hoàn thành vào ngày 2/9/1936 với sự kết nối từ tuyến đường xuất phát từ biên giới Trung Quốc ở phía Bắc và tuyến đường từ Sài Gòn đi ra ở phía Nam”.

Tuyến đường đã đặt xong, nhưng vẫn còn những công trình phụ phải hoàn thành. Ba tôi ở lại Nha trang đến mùa hè năm 1938 mới được điều ra Hà nội. Vì những công lao trong 9 năm khảo sát và thi công tuyến đường Tourane-Khánh hòa, ba tôi được thăng cấp trong công ty GTEO, cả nhà được vé toa nằm hạng nhì và phiếu ăn ở toa ăn trên chuyến tàu Saigon-Hanoi (đoạn Nha trang- Hanoi, có ghé xuốngVinh). Toa hạng nhì rất sang, còn toa ăn thì như một tiệm ăn Pháp lưu động có thực đơn Âu-Á rất phong phú và đủ loại rượu quý./

Bài viết được lược dịch từ For For Tour.( Trang tin thể thao văn hóa của Mỹ)

Là người yêu ca nhạc liệu bạn đã nghe những bài hát này?

Là người yêu ca nhạc liệu bạn đã nghe những bài hát này

Bạn có biết những bài hát bạn hay nghe thuộc dòng nhạc không? Hãy thử tìm tên các bài hát bạn yêu thích trong các thể loại nhạc dưới đây. Các bài hát hay nhất mỗi thể loại của các ca sỹ nổi tiếng.

Nghe nhạc Đàm Vĩnh Hưng remix

Đàm Vĩnh Hưng tên thật là Huỳnh Minh Hưng sinh năm 1971. Thế mạnh của anh là các bản nhạc Pop, ngoài ra anh còn thể hiện thành công các ca khúc nhạc tiền chiến, trữ tình và Cách Mạng. Với chất giọng khàn lạ mang những khổ đau, chia lìa, nghiệt ngã lẫn ngọt ngào, hạnh phúc vào những ca khúc của mình, Đàm Vĩnh Hưng đã để lại rất nhiều ấn tượng cho người nghe nhạc. Nếu bạn đã nghe nhạc Đàm Vĩnh Hưng remix chắc chắn bạn sẽ không thể quên được những cái tên như: Khoảng cách, giây phút chia xa, Tình nhạt phai, Góc khuất, Chỉ còn mình anh, Nửa vầng trăng,…

Nghe nhạc Đàm Vĩnh Hưng remix

Cũng với giai điệu sôi động đó, các bạn có thể chọn nghe nhạc EDM hay nhất hiện nay. EDM viết tắt của từ Electronic Dance Music, nghĩa là nhạc sôi động được tạo ra từ các thiết bị điện tử. Đây là dòng nhạc được bắt nguồn từ nhạc disco từ những năm 1970 và thường xuất hiện trong các lễ hội âm nhạc và các câu lạc bộ đêm.

Ngay cả nền âm nhạc Việt Nam cũng đang đẩy mạnh thể loại nhạc này, điển hình có thể kể tên một số ca sĩ nổi tiếng đang khuấy động thị trường âm nhạc Việt Nam với phong cách EDM như Sơn Tùng MTP, Noo Phước Thịnh, Đông Nhi…

Nghe nhạc cổ điển

Nhạc cổ điển là dòng nhạc nghệ thuật được sản xuất, hoặc được bắt nguồn từ truyền thống tế lễ ở phương Tây bao gồm cả nhạc tôn giáo và nhạc thế tục. Những bản nhạc cổ điển nổi tiếng thuộc về thế kỉ thứ 16, 17 và đặc biệt lấy ý tưởng từ thiên nhiên và thần thoại.

Nghe nhạc cổ điển giúp người nghe thư giãn

Nếu bạn là fan nghe nhạc cổ điển chắc chắn không còn xa lạ với các cái tên như: Symphony 5, O Fortuna, Hallelujah Chorus, Ride of the Valkyries, Toccata in d minor, Eine Kleine Nachtmusik, Ode to Joy, Spring,…

Đều là nhạc nước ngoài nhưng không như các bài hát nhạc cổ điển, nhạc nhẹ giúp người nghe cảm giác thoải mái hơn nhất là các bài hát về tình yêu.

Những bài hát nước ngoài

Nghe nhạc nước ngoài về tình yêu có lời ca ý nghĩa và giai điệu sâu lắng. Thất tình là nỗi đau không thể tránh khỏi trong tình yêu bởi có mấy ai yêu duy nhất một người và kết hôn với mối tình đầu của mình. Khi bạn thất tình có từng nghe nhạc nhẹ để tìm lại cảm xúc qua các bài hát: Why Does It Rain, It’s Not Goodbye, The Day You Went Away, Unbreak My Heart, Sorry That I Love You.

Trở về với nhạc Việt, nói đến những bài hát nhạc nhẹ sâu lắng phải kể đến dòng nhạc trữ tình. Các bản nhạc trữ tình về tình yêu đều mang âm hưởng da diết buồn chạm đến trái tim người nghe.

Một trong các cây nhạc Bolero của dòng nhạc trữ tình là Giáng Tiên. Không chỉ thu hút về ngoại hình cô còn chiếm được lòng khá giả với giọng hát hay và đầy cảm xúc. Thể loại nhạc trữ tình, dân ca giúp cô dành được tình cảm của khán giả. Bởi chất giọng truyền cảm cùng với rất nhiều ca khúc trữ tình.

Giáng Tiên có vẻ ngoài xinh đẹp và giọng hát lôi cuốn

Bạn là người yêu thích nhạc trữ tình và hay nghe nhạc Giáng Tiên không nên bỏ qua những ca khúc do Giáng Tiên thể hiện như: Nhớ nhau hoài, Trách ai vô tình, Giọt sầu tương tư, Ru con thuyền mộng, Nhớ nhau hoài,…

Khi nhắc đến Giáng Tiên trong dòng nhạc trữ tình chắc chắn không thể bỏ qua Tuấn Ngọc. Tuấn Ngọc tên thật là Lữ Anh Tuấn sinh năm 1947. Ông là một trong những giọng ca đặc biệt xuất sắc trong dòng nhạc trữ tình Việt Nam. Với một số nhạc phẩm như Riêng Một Góc Trời, Rong Rêu…

Tuấn Ngọc là biểu tượng của dòng nhạc trữ tình Việt

Khi nghe nhạc Tuấn Ngọc khán giả được hòa mình vào giọng hát ngọt ngào và sâu lắng của ông, Tuấn Ngọc được nhiều người xem như một giọng ca nam “tượng đài” của nền tân nhạc Việt Nam.

Nghe nhạc Ngô Quốc Linh

Ngô Quốc Linh (1980) quê quán tại Thừa Thiên Huế, Ngô Quốc Linh có giọng hát thật ngọt ngào và truyền cảm. Những tình khúc một thời được nhiều ca sĩ thể hiện, nay Linh hát lại với độ rung cảm của tuổi trẻ, làm cho người nghe cảm giác như bị mê đắm trước những nỗi niềm của anh thông qua ca khúc.  Nghe nhạc Ngô Quốc Linh bạn sẽ không thể bỏ qua những ca khúc : Chuyện tình ao cá, Thư tình cuối mùa thu, Anh biết em đi chẳng trở về, Nội tôi…

Nghe nhạc Lương Bích Hữu

Lương Bích Hữu (sinh năm 1984) là một nữ ca sĩ người Việt gốc Hoa được biết đến nhiều qua các ca khúc dành cho giới trẻ. Cô còn được giới truyền thông cũng như khán giả hâm mộ đặt cho biệt danh Cô gái Trung Hoa.

Với tài năng ca hát từ khi còn nhỏ, Lương Bích Hữu nhanh chóng chiếm được tình cảm của khán giả sau khi nhận được nhiều giải thưởng âm nhạc lớn. Nghe nhạc online Lương Bích Hữu ngày nay vẫn được nhiều bạn trẻ yêu thích, trong đó cô nổi tiếng với các ca khúc: Anh không muốn bất công với em, Cô gái Trung Hoa, Cô gái Trung Hoa trở lại, Gọi tên nhau mãi, Em yêu anh, Học cách đi một mình, Anh muốn chia tay phải không, Vội vã yêu nhau vội vã rời,…

Nghe nhạc trữ tình miền Tây

Đặc sản miền Tây sông nước không chỉ có “Anh ba khía” mà nghe nhạc trữ tình miền tây cũng giúp người nghe nhớ đến vùng đất miền Tây với chiếc áo bà ba và cô lái đò. Mời bạn thưởng thức những bản nhạc trữ tình miền Tây: Sao em chưa về, Nỗi buồn của tôi, Tình lúa duyên trăng, Cô ba miệt vườn, Chim trắng mồ côi, Mấy nhịp cầu tre,…

Tản mạn âm nhạc – văn học: Vi vu sáo trúc trời mây khói

Trong chầu văn quan Hoàng Bảy, có hai câu văn diễn tả rất thần tình cái phong lưu, siêu thoát của Hoàng. Hai câu văn mà ngỡ như thơ hơn nhiều bài thơ, và nhạc hơn nhiều bản nhạc:

Vi vu sao trúc trời mây khói
Như ả phủ dung cuốc gọi hồn

Thế nào là một tiếng sao vi vu? Tiếng sao vi vu có lẽ là một tiếng sáo rất vang. Tiếng sáo ấy lan tỏa ra không gian theo chiều rộng và bay ngút lên trời theo chiều cao. Nhưng đấy không phải là một sự chiếm lĩnh không gian ồ ạt, mà như một tín hiệu nhói buốt được cứa lên từ cái cơ thể không gian. Bởi lẽ “vi vu” gợi lên một tiếng sao mảnh mai, tinh khiết. Và đã gọi là tiếng sáo thì dĩ nhiên nó chỉ được cảm nhận bằng thính giác con người. Thế nhưng vế sau của câu văn lại làm cho tiếng sáo ấy được cảm nhận ở chiều thứ hai: chiều thị giác. Ở đây, rõ ràng là “vi vu sáo trúc” diễn tả tiếng sao, còn “trời mây khói” diễn tả bầu trời, và lẽ thường thì hai phạm trù đó không là một. Thế nhưng nhờ sự tiếp nối dường như không có khoảng cách của 7 ký tự nối tiếp nhau nên người ta bỗng có một cảm nhận: Tiếng sáo kia vi vu trên bầu trời, và tưởng như sự vi vu linh diệu ấy đang tỏa mây khói ra cả bầu trời. Như thế chẳng phải là tiếng sáo tới đây đã được cảm nhận ở chiều thị giác đó sao?

Câu văn này dễ gợi người ta nhớ đến một câu thơ trong Nhật Ký Trong Tù của Hồ Chí Minh:

Ngục trung hốt thính tư hương khúc
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu
(Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu)

Thế nhưng giữa tiếng sáo mà Hồ Chí Minh nghe được trong nhà tù Tưởng Giới Thạch của những năm 40 của thế kỷ trước với tiếng sáo mà quan hoàng Bảy say sưa thưởng lãm từ hàng trăm năm trước có gì khác nhau? Sự khác biệt nằm ở chỗ: Tiếng sáo vi vu của một người bạn tù mà Hồ Chí Minh nghe được là một tiếng sáo bị kìm hãm. Tiếng sao ấy cố vút lên khỏi vực sâu đen tối của nhà tù. Nó giống như tâm thế của những con người khổ ải đang cố thoát khỏi hoàn cảnh của mình. Thế nên tiếng sáo ấy vi vu đó mà sầu thê thiết đó, ngân nga đó, mà não lòng bi ai đó. Ngược lại, tiếng sáo của quan Hoàng lại là tiếng sao trên bầu trời tự do. Tiếng sáo của một tâm hồn bồng bềnh, bay lượn giữa cái khôn trùng, vô tận của đại tự nhiên.

Vậy nên từ tiếng sáo mà người ta cảm nhận rõ cái tâm thế của người nghe sáo. Từ một thanh âm mà người ta hiểu thấu sự lãng mạn, phong lưu của kẻ thưởng ngoạn thanh âm. Tiếng sáo vi vu linh diệu ấy, bầu trời mây khói thiên thai ấy dường như đang diễn tả quá trình một ông quan siêu thoát khỏi bể khổ trần ai. Sự siêu thoát ấy dẫu có thể chỉ được diễn ra ở phương diện tinh thần thì nó vẫn ánh lên một vẻ đẹp tựa như những bức tranh thủy mạc trong cổ họa Đông phương

Nếu câu văn đầu tiên gợi cho người đọc hình ảnh một ông Hoàng say sưa bởi âm thanh thì câu căn thứ hai lại gợi hình ảnh một ông hoàng say sưa vì khói thuôc:

Như ả phù dung cuốc gọi hồn

Chữ “ả” quả là một chữ rất đắt. Chữ “ả” đó khiến cho khói thuốc phiện (phù dung là thuốc phiện)bỗng trở nên mềm mại, tình tứ hơn. Thế mới biết, cái cách Hoàng hút thuốc và thưởng thuốc khác xa so với những kẻ thường. HÌnh ảnh “ả phù dung” không chỉ gợi cảm giác ĐẸP, mà còn gợi cảm giác MÊ. Nói là mê ả ấy cũng đúng, mà nói là mê người đang say ả cũng chẳng sai.

Ba tín hiệu ngôn ngữ, cũng đồng thời là ba tín hiệu thẩm mĩ: Sáo trúc vi vu – trời mây sương khói – Phù dung nhiệm màu tái tạo một cách thần diệu nhất trạng thái SAY như quên mọi sự đời của quan Hoàng. Thế nhưng tín hiệu thứ tư lại khiến cho cái thế giới SAY ấy bỗng nhiên giật mạnh. Bởi ở chính tín hiệu thứ tư này người ta mới bàng hoàng nhận ra: Hoàng Bảy say hơn bao giờ hết nhưng hoàng Bảy cũng đang tỉnh hơn bao giờ hết. Tín hiệu thứ tư: “Cuốc gọi hồn” – tạo ra sự khác biệt một trời một vực so với ba tín hiệu trước đó. Cuốc là hình ảnh con chim cuốc, một con chim mà theo truyền thyết thì tiếng kêu của nó điển hình cho nỗi nhớ nước thương nhà. Hóa ra, ngay trong cơn say tột độ của mình, trái tim quan Hoàng Bảy vẫn nhói đau vì nghiệp lớn.

Tới đây người ta rất dễ có hai cảm nhận. Cảm nhận thứ nhất: Hoàng là một vị tướng tận trung. Bởi phải tận trung lắm thì mới có thể nhức nhối chuyện nước non ngay cả lúc mà bản thân mình đang say sưa thoát tục. Và như thế, Hoàng gợi lên một sự ngưỡng mộ lớn, sự ngưỡng mộ đối với một con người mà tài tử thì cũng thật tài tử, nhưng tài tử, phong trần đến đâu cũng vẫn không nguôi nghiệp lớn của kẻ làm trai. Cảm nhận thứ hai: Tại sao Hoàng không say hết đi, say cho tột cùng, cho quên mọi sự đi? Trong chính cơn say của mình mà vẫn còn nhức nhối một nỗi đau trần thế (dù đấy là nỗi đau của sự tận trung) thì cơn say kia liệu đã tới độ của nó chưa?

Đến đây chúng ta chợt nhận ra một điều: Khi xây dựng hình ảnh một vị anh hùng phong lưu, lãng mạn, dân gian Việt Nam vẫn không thoát ra được cái tư tưởng TRUNG QUÂN ÁI QUỐC. Nhưng có lẽ đấy lại là một câu chuyện khác không nên mở rộng. Ở đây, đièu quan trọng là chúng ta đã được chiêm ngưỡng cái trạng thái say thần diệu của một ông Hoàng.

Cái say ấy, bao giờ ta SAY được?

Long./